» Chuyên mục »Thông tin >
Trong cuộc hành trình gia nhập vào quỹ đạo văn học thế giới, văn học Việt
1. Bức tranh dịch thuật
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, qua cửa ngõ phương Tây (chủ yếu là văn học Pháp), giới trí thức Việt
Sau năm 1954, trước khi bốn tập Chiến tranh và hoà bình được xuất bản ở miền Bắc Việt Nam (năm 1961 – 1962), Tạp chí Văn nghệ số 11 – 1960 đã đăng trích đoạn Napôlêông trước Matxcơva. Đoạn trích gợi cho người đọc Việt Nam về một thời kì lịch sử không xa, về cuộc rút lui bi tráng, bỏ lại Hà Nội sau 60 ngày đêm khói lửa, về tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của Trung đoàn Thủ đô, về cuộc kháng chiến trường kì ác liệt của toàn dân tộc để làm nên một Điện Biên “chấn động địa cầu”.
Đầu những năm 60 của thế kỉ XX, ngay sau khi NXB Văn hóa triển khai kế hoạch dịch, giới thiệu tinh hoa văn học thế giới, thiên tiểu thuyết sử thi đồ sộ Chiến tranh và hòa bình do Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành, Hoàng Thiếu Sơn, Trường Xuyên dịch đã ra mắt bạn đọc miền Bắc. Những dịch giả này đều đồng thời là những nhà nghiên cứu hiểu biết rộng, tinh thông nhiều ngoại ngữ. Họ đã đối chiếu, tham khảo bản dịch tiếng Trung, tiếng Anh, đặc biệt là bản tiếng Pháp của Henri Mongault (bản dịch được đánh giá là tốt nhất thời kì đó). Lúc đầu không phải toàn bộ tác phẩm Chiến tranh và hoà bình đều được dịch thẳng từ tiếng Nga. Đến lần tái bản năm 1976 – 1977, Cao Xuân Hạo mới căn cứ vào nguyên bản tiếng Nga hiệu đính lại toàn bộ bản dịch. Theo giới chuyên môn, Chiến tranh và hòa bình là một trong những bản dịch công phu và thành công, xứng đáng được ghi nhận như mốc son trong lịch sử dịch văn học Nga ở Việt
Bên cạnh Chiến tranh và hoà bình, những bản dịch Anna Karenina, Phục sinh của NXB Văn học cũng được đông đảo bạn đọc Việt Nam yêu thích, hâm mộ. Năm 1963 – 1964, Nhị Ca và Dương Tường chuyển ngữ Anna Karênina gồm ba tập, tập 1 (1963), tập 2, tập 3 (1964), dựa theo bản Pháp văn của Sylvie Luneau (NXB Fernand Hazan, Paris 1949), có tham khảo hai bản Nga văn và Trung văn. Những năm 70, Phùng Uông, Nguyễn Nam, Ngọc Ân, Mộc Nghĩa hoàn thành bản dịch tiểu thuyết Phục sinh từ nguyên bản tiếng Nga, có tham khảo bản dịch Pháp văn của E. Beaux, E. H. Kaninski, T. de Wgewa Anh văn của L. Maude và L. Kolesnike Hoa văn (Phục hoạt) của Nhữ Long. Lúc đầu, bản dịch có tên là Sống lại (NXB Văn học, 1970), các lần in sau đổi là Phục sinh. Việc thay đổi như vậy là hợp lí, bao quát được ý nghĩa tác phẩm: vừa tái hiện “quá trình sống lại” của con người, vừa ghi lại một thời điểm tạo nên bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật chính – đêm lễ Phục sinh là đêm xảy ra câu chuyện bi thảm giữa Nekhliudov và Maslova. Nhà nghiên cứu Lê Sơn, người chứng kiến cách làm việc nghiêm túc của nhóm dịch giả, cho biết: nếu Tolstoi đã bỏ ra mười năm để hoàn thành cuốn sách thì các dịch giả cũng tốn một khoảng thời gian tương tự để tác phẩm có thể ra mắt công chúng Việt
Ngoài ra, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp đã cho dịch và in roneo một số truyện ngắn của Tolstoi: Những mẩu chuyện Xêvaxtôpôn, Buổi sáng của một trang chủ, Cha Xecghi, Cái chết của Ivan Ilich…
Có thể nói L. Tolstoi đã đến với độc giả miền Bắc trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước của Việt Nam đang diễn ra vô cùng gay go, quyết liệt. Sự gắn bó của những số phận lịch sử khiến bạn đọc Việt
Cũng thời kì này, ở miền Nam Việt Nam, cùng với Dostoievski, L. Tolstoi thuộc số các tác giả cổ điển Nga có đầu sách dịch vượt trội. Hầu hết các tác phẩm chính của ông đều được chuyển dịch sang tiếng Việt, không ít trong số đó trước năm 1975 chưa được ra mắt bạn đọc miền Bắc. Cuối những năm 50, độc giả miền Nam làm quen với Tolstoi khi trên Tạp chí Văn hoá ngày nay, Bách khoa giới thiệu tác phẩm Một bản đàn, Cái chết của An-Đễ, Tâm trạng một thương binh (trích Chiến tranh và hoà bình), Hạnh phúc gia đình (NXB Phương Giang 1957), Tình nghĩa vợ chồng (NXB Phương Giang 1958).
Những năm 60 xuất hiện các bản dịch : Cái chết của Ivan Ilich (Vũ Đình Lưu dịch, NXB Thời Mới 1963), truyện ngắn Số đất cần cho con người (Nguyễn Vạng Hộ dịch, Tạp chí Bách khoa số 172 năm 1964), truyện Ba người thánh thiện (Nguyễn Kim Phượng dịch, Tạp chí Bách khoa số 240 năm 1967), truyện Ba cái chết, Các cô bé khôn hơn người lớn, Người ta sống bởi gì?, Cái xấu cám dỗ, nhưng cái tốt tồn tại, Việc làm, sự chết và bệnh tật, Thiện ác đáo đầu (Nguyễn Kim Phượng và Lạc Nhân dịch, Tạp chí Văn số 128 năm 1969).
Đặc biệt năm 1969, ở Sài Gòn xuất hiện hai bản dịch Chiến tranh và hoà bình. Một của Nguyễn Đan Tâm (dựa trên bản dịch rút ngắn của Manel Komroff, trong đó bỏ một số chương Tolstoi bàn về tôn giáo, triết lí chiến tranh và lịch sử) do NXB Miền Nam công bố. Bản dịch khác (trọn bộ 4 tập) của Nguyễn Hiến Lê, NXB Lá Bối ấn hành. Nhân dịp này, Tạp chí Văn đã ra số đặc biệt để “độc giả của Văn – những bạn ưa thích văn học dịch làm quen với Tolstoi, biết tới sự xuất hiện của một tác phẩm cổ điển giá trị, đã từng được phiên dịch ra nhiều thứ tiếng, phổ biến khắp hoàn cầu”(2). Trong hồi kí Đời viết văn của tôi, Nguyễn Hiến Lê cho biết: cuối năm 1966, ông bắt tay dịch Chiến tranh và hoà bình, tác phẩm mà theo ông, hàng trăm năm sau người ta vẫn đọc “mà khóc mà cười, mà yêu đời hơn và hiểu đời hơn”. Ông nóng lòng vì sự chậm trễ việc chuyển ngữ tác phẩm sang tiếng Việt, “đi sau Trung Hoa một phần tư thế kỉ”, chậm hơn miền Bắc cả một thập niên. Về quan điểm dịch, Nguyễn Hiến Lê cho rằng: “Chiến tranh và hoà bình là tác phẩm bất hủ của nhân loại cho nên chúng tôi dịch trọn, không bỏ một hàng nào và theo sát lối hành văn của tác giả” (3). Nguyễn Hiến Lê có tham khảo bản dịch của NXB Văn hoá, Hà Nội, công phu đối chiếu nhiều bản dịch, gia công viết lời giới thiệu tác phẩm và lập bảng tra cứu mối quan hệ giữa các nhân vật.
Những năm 70, trong cơn lũ sách dịch, tác phẩm của Tolstoi liên tục xuất hiện: Đời tôi (gồm 2 truyện vừa Đời tôi, Dũng sĩ miền núi), Vũ Minh Thiều dịch, NXB Khai Trí 1970, 1971, 1972; Khúc nhạc mê li (Nguyễn Văn Điền dịch, NXB Đất Sống, 1973); Vùng đất hồi sinh (Nguyễn Đan Tâm và Vũ Kim Thư dịch, NXB Phù Sa, 1973); Tình trong chiến hào ( Hoàng Hải Thủy dịch, NXB Đất Mới 1973). Ngoài ra, tập truyện ngắn quốc tế Tử thần chờ đợi (Xuân Hoàng tuyển dịch, NXB Tự Lực, 1974), in đoạn trích Cái chết của Ivan Ilich. Tập 1001 truyện ngắn hay nhất thế giới (Nguyên Hùng tuyển dịch, NXB Sống Mới, 1970) in truyện Lạc giữa đồng tuyết (Ông chủ và người làm). Có bản dịch vừa xuất bản đã có tiếp một bản dịch khác, chẳng hạn: Những người Kodac của Tolstoi do Nguyễn Trọng Đạt dịch (NXB Trí Đăng, 1970) với nhan đề Sơn lâm êm đềm, đến năm 1973, NXB Đất Sống giới thiệu bản dịch của Mặc Đỗ dưới một nhan đề khác: Vùng đất hoang vu…
Tần số xuất hiện các bản dịch tác phẩm Tolstoi ở miền Nam vào những năm 60 và đầu những năm 70 có nhiều nguyên nhân. Đây là thời kì chính quyền Sài Gòn đang cố sức du nhập sự đa nguyên về tư tưởng để quảng bá cho “chế độ tự do” của Việt Nam Cộng hòa. Việc du nhập sự đa nguyên, “tự do” về tư tưởng ấy được triển khai rất rộng rãi ở hoạt động dịch thuật. Trong đống hỗn độn những văn hóa phẩm của gần 150 nhà xuất bản, có nhiều tác phẩm là tinh hoa văn học thế giới, trong đó có tác phẩm của Tolstoi. Một điểm nữa cần lưu ý là các nhà xuất bản ở Sài Gòn mang tính chất tư nhân, kinh doanh cạnh tranh. Bị chi phối bởi quy luật kinh tế thị trường nghiệt ngã, các nhà xuất bản luôn và buộc phải chú ý thị hiếu bạn đọc. Tác phẩm có người hâm mộ, bán chạy, các nhà xuất bản mới in sách. Nhiều hiện tượng văn học trở thành “mốt” thời thượng như tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, tiểu thuyết tình cảm Quỳnh Dao… thu hút đông đảo độc giả. Việc chọn dịch tác phẩm của nhà văn tầm cỡ thế giới như L. Tolstoi không ngoài mục đích vừa đáp ứng nhu cầu độc giả, vừa trông mong thành công lợi nhuận. Tình trạng nhiều nhà xuất bản cùng đổ xô dịch tác phẩm của Tolstoi là điều dễ hiểu. Cũng có trường hợp, chẳng hạn NXB Lá Bối in tác phẩm của Tolstoi để “như muốn ghi nhận mối tha thiết của L. Tolstoi đến đạo Phật và ghi nhận sự đồng điệu giữa trường phái Tolstoi, chủ nghĩa bất bạo động của Tolstoi với thuyết Phật giáo”(4).
Có thể nói, những bản dịch tác phẩm L. Tolstoi tại miền Nam trước 1975 đã góp phần giới thiệu sáng tác của cây bút văn xuôi cổ điển Nga. Bên cạnh một số bản dịch thành công như Chiến tranh và hoà bình của Nguyễn Hiến Lê thì chất lượng nhiều bản dịch cần được đánh giá lại. Hầu hết các bản dịch đều được dịch qua ngôn ngữ trung gian (tiếng Anh, tiếng Pháp), không có sự đối chiếu với bản tiếng Nga. Hơn nữa, sự phát triển như thác chảy về mặt số lượng các bản dịch, tất nhiên không thể song hành cùng việc đảm bảo chất lượng của chúng. N. Nikulin nhận xét: “Dù chỉ mới xem sơ qua một số bản dịch, cũng đã có một ấn tượng đáng buồn. Ví dụ, lật bản dịch Phục sinh của Tolstoi do NXB Phù Sa của Sài Gòn in năm 1973, ta sẽ thấy ngay sự nghèo nàn về ngôn từ, sự thiếu chính xác, không tương xứng về văn phong. Người dịch đã dịch từng chữ, nên đã chia nhỏ những “trường đoạn” ngôn ngữ nổi tiếng của Tolstoi thành những câu ngắn nát vụn”(5). Ngoài ra, có hiện tượng một số dịch giả miền
Sau chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975, đất nước thống nhất, chấm dứt tình trạng hai miền tồn tại hai nền văn học riêng biệt. Đây là thuận lợi lớn cho sự phát triển văn học, bao gồm cả việc tạo ra một lực lượng công chúng độc giả thống nhất về phương diện xã hội – chính trị. Trong điều kiện đất nước hòa bình, nhu cầu văn hoá tinh thần đối với các tầng lớp nhân dân rất lớn; việc giao lưu quốc tế, tiếp nhận những luồng gió mới, những tri thức và hiểu biết mới được đặt ra cấp thiết.
Đáp ứng nhu cầu bạn đọc rộng rãi trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh phía Nam, NXB Văn học tái bản bộ Chiến tranh và hòa bình (tập 1,2: năm 1976; tập 3,4: năm 1979) với số lượng lớn (20.200 cuốn mỗi tập), gấp nhiều lần so với lần xuất bản đầu tiên (1.500 cuốn mỗi tập); Anna Karênina (1978) cũng với số lượng tương tự; tiếp đó là Phục sinh (1993). Một số bản dịch có chất lượng, phát hành ở miền
Tập truyện chọn lọc của L. Tolstoi do Nguyễn Hải Hà, Thúy Toàn dịch được NXB Văn học ấn hành năm 1984. Với tập truyện này, L. Tolstoi không chỉ là tác giả của những thiên tiểu thuyết đồ sộ nổi tiếng toàn thế giới mà còn là bậc thầy tài nghệ vô song của những tác phẩm “nho nhỏ”- các truyện vừa và truyện ngắn: Những mẩu chuyện Xêvaxtôpôn, Buổi sáng của một trang chủ, Cái chết của Ivan Ilich, Luyxec, Đức cha Xecghi, Sau đêm vũ hội, Khatgi Murat…
Đầu những năm 90, sau khi Liên xô và Đông Âu sụp đổ, hào quang của văn hóa Nga bị mờ nhạt, sức mạnh của văn hóa Nga như chựng lại. Ảnh hưởng văn hóa phương Tây tràn vào Việt
Trong những năm gần đây, văn hóa Nga được phục sinh và có chiều hướng phát triển tích cực ngay tại chính nước Nga. Quan hệ và giao lưu kinh tế, xã hội, văn hóa giữa hai quốc gia thân thiện Nga và Việt cũng có bước phát triển mới. Đây chắc chắn là cánh đồng phù sa màu mỡ cho văn hóa Nga, trong đó có những tác phẩm của L. Tolstoi, tiếp tục có thêm cuộc sống mới ở Việt
2. Tình hình nghiên cứu, phê bình
Trước năm 1954, tên tuổi của Tolstoi đã xuất hiện trên một số bài phê bình, khảo cứu của Hải Triều, Nhất Linh, Thạch Lam.... L. Tolstoi là chỗ dựa tin cậy về quan điểm nghệ thuật, cách viết tiểu thuyết, miêu tả tâm lí nhân vật trong các cuộc tranh luận văn chương bấy giờ. Các nhà văn cổ điển Nga luôn là hình mẫu lí tưởng để các nhà văn Việt
Việc nghiên cứu văn học Nga, nghiên cứu L. Tolstoi ở Việt Nam chỉ thực sự được đặt ra từ cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỉ XX, khi nền văn học này được giới thiệu rộng rãi qua các bản dịch và được đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường từ phổ thông đến đại học. Đóng vai trò nổi bật giúp bạn đọc Việt
Bài tiểu luận Tônxtôi (1960) của Nguyễn Tuân đến nay vẫn làm người đọc ngạc nhiên trước tầm hiểu biết, vốn văn hóa rộng lớn và những nhận xét tinh tế của ông về sáng tác của nhà văn Nga. Nguyễn Tuân khẳng định: “cho đến ngày nhân loại du hành vũ trụ đi hết lên các tinh cầu khác, Tônxtôi vẫn là cây đại thụ sừng sững trong rừng văn đại ngàn nước Nga”. Ông rất thán phục tài năng Tolstoi, kinh ngạc trước khả năng quan sát phi thường của nhà văn Nga: “Tônxtôi hành văn chính xác như soi kính hiển vi để tìm cái sâu sắc cho những chi tiết báo hiệu chất tâm lí […]. Nghệ thuật của Tônxtôi rất nhiều tưởng tượng, rất nhiều nội tâm nhưng cũng rất nhiều quan sát”. Nguyễn Tuân phát hiện sự thành công tiểu thuyết của Tolstoi chính là nhờ “sự lập thành của ngàn cái chi tiết, ở quá trình tích luỹ vốn sống “cả rộng cả sâu”. Ông đặc biệt ngưỡng mộ tiểu thuyết sử thi Chiến tranh và hòa bình, coi đó là một đỉnh văn đến nay chưa ai vượt nổi. Đề cập đến Anna Karenina, Nguyễn Tuân chú ý đến yếu tố tự thuật trong tác phẩm, xem Levin là hóa thân của tác giả. Cuộc sống nội tâm của nhân vật này chẳng qua cũng chỉ là “cái tâm tư của đích thân Tônxtôi”.
Đến với Tolstoi, Nguyễn Tuân cảm thông được cái phần sâu xa nhất trong di sản của nhà văn Nga: “Cái tài lớn của Tônxtôi nghệ sĩ thì đã rõ rồi. Nhưng còn phải thấy Tônxtôi ở những điều nghĩ về nhân loại, vì nhân loại, cho nhân loại”(6).
Tạp chí Văn học, báo Văn nghệ là diễn đàn trao đổi học thuật chủ yếu của giới nghiên cứu văn học Việt
Trong sự tiếp nhận của độc giả miền
Ý nghĩa thế giới của Tolstoi trong lịch sử văn học được giới nghiên cứu miền
Từ năm 1959, Nguyễn Hiến Lê đã giới thiệu tiểu sử Tolstoi dưới nhan đề Léon Tolstoi – một Á thánh trên Tạp chí Bách Khoa và trong tập sách Gương danh nhân được xuất bản cùng năm. Là học giả uyên bác, Nguyễn Hiến Lê đem đến cho độc giả miền
Cũng như các nơi khác trên thế giới, tại miền Nam trước 1975, Chiến tranh và hoà bình được giới nghiên cứu đánh giá là một trong những tuyệt đỉnh của tiểu thuyết Nga, là tác phẩm bộc lộ đầy đủ, trọn vẹn nhất sức mạnh thiên tài nghệ thuật của Tolstoi. Hoàng Vũ Đức Vân khâm phục nghệ thuật phân tích tâm lí của Tolstoi: “Mặc dù ông không tả đời sống bên trong của các nhân vật mà chúng ta vẫn cảm thấy rõ rệt đời sống bên trong ấy như được phân tích thật tỉ mỉ, kĩ lưỡng”(12). Nguyễn Hiến Lê thì bị thu hút bởi “những trang hay nhất trong Chiến tranh và hoà bình là những trang tả cảnh sinh động. Có hàng trăm, hàng ngàn cảnh khác nhau mà cảnh nào cũng như đang diễn lại trước mắt ta”(13) . Mỗi người, tuỳ cách cảm, đều tìm thấy ở Tolstoi cái hay, cái đẹp của nghệ thuật văn chương đích thực; không ít người đã dùng tác phẩm của ông để trau dồi cách viết.
Bên cạnh Chiến tranh và hoà bình, Anna Karenina cũng được coi là tiểu thuyết tâm lí xuất sắc, bức hoạ vĩ đại về thực tại Nga thời kì biến chuyển dữ dội của lịch sử. Người đọc nhận ra ở nhân vật Levin những tương đồng với tác giả về “sự cố gắng giúp đỡ dân quê, niềm tin vào Chúa, tình yêu nhân loại, nỗi thôi thúc suốt đời muốn sống tốt hơn lên” và tìm thấy qua những trang tiểu thuyết này “sự phấn đấu của một tâm hồn tìm kiếm chân lí cuộc đời” (14). Dù còn nhiều vấn đề nội dung, nghệ thuật chưa được đề cập, nhưng nhận định trên đây của nhà sách Khai Trí có thể coi như sự trình bày quan điểm về cách hiểu, cách cắt nghĩa tác phẩm.
Lời Tựa của NXB Phù Sa cũng cho thấy cách tiếp cận phổ biến của độc giả miền
Nghiên cứu L. Tolstoi, không phải lúc nào giới phê bình Sài Gòn cũng có cái nhìn khách quan. Chẳng hạn, nhận xét các nhân vật lịch sử trong Chiến tranh và hoà bình, Nguyễn Hiến Lê có cách hiểu chưa thấu đáo, cho rằng Tolstoi “thâm oán Napoleon…, kẻ thù của dân tộc ông, cho nên trong Chiến tranh và hoà bình ông đã bôi nhọ Hoàng đế Pháp”(16). Theo chúng tôi, khi phân tích, lí giải các sự kiện lịch sử cũng như các nhân vật, Tolstoi trước hết dựa trên những chuẩn mực đạo đức, coi đạo đức là thước đo hành vi, tiêu chuẩn đánh giá nhân vật. Quan điểm này, ở mức độ đáng kể, đã quy định phương thức điển hình hóa trong sáng tác của nhà văn. Đối với Tolstoi, cái vĩ đại không thể tách rời đạo đức, “ở đâu không có sự giản dị, không có cái thiện và cái chân thì ở đấy không thể có sự vĩ đại được”. Hình tượng Kutuzov và Napoleon được xây dựng chính trên nền tư tưởng ấy.
Những suy nghĩ của Tolstoi về cái vĩnh viễn của cuộc đời là đề tài gây chú ý giới trí thức Sài Gòn. Cái chết quả là một bí mật mà suốt đời Tolstoi muốn khám phá, tìm hiểu, nhằm giải đáp câu hỏi quan trọng nhất của con người: Sống là gì? Chết là gì? Và cần phải sống như thế nào? Trong khi cái chết đối với Tolstoi vừa là đối tượng của sự sáng tạo nghệ thuật, vừa là một phạm trù triết học thì Tràng Thiên lại giải thích tư tưởng nhà văn theo một cách khác: “Tolstoi khoẻ mạnh, đầy sức sống và có lẽ tại vì thế đối với cái chết, ông lo lắng và sợ hãi hơn các nhà văn khác.”(17). Theo Tràng Thiên, truyện Cái chết của Ivan Ilich thể hiện nỗi khắc khoải suốt đời của Tolstoi xung quanh ý tưởng về cái chết. Vẫn biết Tolstoi là con người đầy mâu thuẫn và không ít mâu thuẫn tạo nên sự vĩ đại của nhà văn. Nhưng thật ra trong tác phẩm này, Tolstoi không miêu tả sự khủng khiếp của cái chết, mà kể sự khủng khiếp của cuộc đời, một cuộc đời “đơn giản, bình thường nhất và cũng đáng sợ nhất”. Trước lúc chết, Ivan Ilich mới nhận ra cuộc sống vô nghĩa trước đây của mình, mới hiểu rằng mình chưa bao giờ sống như một con người thực sự. Bằng sự thức tỉnh ấy, Tolstoi đã phê phán, vạch trần sự giả dối của cuộc sống quý tộc Nga và khẳng định: không thể sống như vậy, cần phải sống khác! Rất khác nhau giữa cách người ta sống và cách người ta phải sống. Cái chết của Ivan Ilich có ý nghĩa đánh thức. Dụng ý thức tỉnh cuộc sống không chỉ có trong tác phẩm này, mà còn vang lên trong nhiều tác phẩm khác của Tolstoi. Không chú ý đến tính hệ thống của quan điểm, trong tác phẩm của Tolstoi, và do vậy, không chú ý đến yếu tố tích cực ấy, Tràng Thiên chỉ quan tâm khía cạnh huyền bí của cái chết: “Tolstoi chiếu một cái nhìn tỉ mỉ và sáng suốt trên cuộc sống và cái chết ấy, thong thả trình bày lại từng chi tiết. Và tự nhiên từ câu chuyện tầm thường ấy vang một run sợ mênh mông huyền bí” (18).
So với Dostoievski, trong nhận thức của độc giả miền
L. Tolstoi giữ một vị trí xứng đáng trong số các tác giả văn học nước ngoài được giới thiệu ở miền
Sau 1975, giới nghiên cứu tiếp tục khám phá và tiếp cận một cách bản chất hơn với sáng tác của Tolstoi. Năm 1978, kỉ niệm 150 năm ngày sinh đại văn hào Nga L. Tolstoi (1828 – 1978) được coi là một sự kiện văn hóa trong đời sống tinh thần xã hội Việt
Mỗi giai đoạn, phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội và phương thức tiếp cận nghệ thuật, đem đến những thay đổi trong cách hiểu những hiện tượng văn học phức tạp và đa nghĩa. Một phương diện quan trọng của tiếp nhận văn học là đánh giá, giải thích, cắt nghĩa tác phẩm. Xung quanh vấn đề này đã nảy sinh nhiều tranh luận. Trong sáng tác của Tolstoi, Anna Karenina là tác phẩm từ khi ra đời đã gặp khá nhiều dư luận khác nhau. Đến Việt
Việc nghiên cứu Tolstoi được tiến hành trên quy mô ngày càng phong phú, đa dạng cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Năm 1986, sau nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy, Nguyễn Trường Lịch cho ra mắt công trình L.N. Tônxtôi. Chuyên luận phản ánh cái nhìn bao quát về nhà văn Nga, từ tiểu sử, sự nghiệp sáng tác đến tầm ảnh hưởng thế giới lớn lao của Tolstoi trong thế kỉ XX. Phần trọng tâm chuyên luận, Nguyễn Trường Lịch đi sâu tìm hiểu chủ nghĩa hiện thực của Tolstoi - một bước tiến trong sự phát triển nghệ thuật nhân loại. Theo tác giả, đặc trưng cơ bản nhất trong sáng tác Tolstoi là tính chất sử thi – tâm lí; L.Tolstoi là nhà văn Nga đầu tiên tái hiện được “ biện chứng của tâm hồn”, mô tả đời sống bên trong nhân vật như một quá trình tâm lí nội tại, tự vận động, đồng thời sự trần thuật của ông đạt tới chiều rộng và tính bao quát của sử thi. Điều này mở ra trước văn học khả năng rộng lớn của sự chiếm lĩnh thẩm mĩ đối với hiện thực.
Những năm gần đây, giới nghiên cứu văn học Việt
Trong di sản văn học của Tolstoi, bên cạnh mảng văn xuôi còn có một phần đáng kể là kịch. Ở Việt
Từ đầu thế kỉ XXI, bên cạnh những chuyên gia văn học Nga đang phát huy ảnh hưởng rất tích cực như: Phạm Vĩnh Cư, Đào Tuấn Ảnh, Phạm Gia Lâm…, ở Việt
Có thể nói rằng: ở Việt Nam, nếu trong đời sống dịch thuật văn học Nga, dịch thuật tác phẩm của L. Tolstoi, đã hình thành một đội ngũ tiếp nối nhau rất đáng tự hào, thì trong đời sống nghiên cứu văn học Nga, nghiên cứu L. Tolstoi, cũng đã hình thành một đội ngũ tiếp nối nhau như thế. Vì tầm ảnh hưởng vĩ đại, sức cuốn hút mãnh liệt của văn học Nga , của L. Tolstoi và cũng vì nhu cầu nhân loại hóa, hiện đại hóa của chính đời sống văn hóa, văn học Việt Nam.
3. Dấu ấn L. Tolstoi trong sáng tác của một số nhà văn Việt
Sau 1954, cùng với việc giới thiệu văn học Nga một cách có hệ thống, việc tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm từ nền văn học này đối với các nhà văn Việt Nam càng thường xuyên, toàn diện hơn, cả trên phương diện tư tưởng lẫn nghệ thuật.
Tiếp nhận bóng dáng khổng lồ của văn học cổ điển Nga, giới sáng tác Việt
Là người có vốn văn hoá rộng, Nguyễn Đình Thi chịu ảnh hưởng văn hoá Nga rất rõ. Ông khâm phục những đỉnh cao văn hoá nhân loại : “Đọc những nhà văn lớn, tôi thấy sự từng trải của họ thật đáng sợ. Đó là những bậc thầy của đời sống, họ hiểu biết đến những chỗ ngóc ngách nhất của lòng người”(23). Ông hết lời ca ngợi nghệ thuật phân tích tâm lí của nhà văn Nga L. Tolstoi : “Hoạt động của tâm hồn con người có lẽ là cái gì phức tạp nhất trên thế giới. Theo tôi các nhà tiểu thuyết lớn đều chú trọng miêu tả sự vận động rất biện chứng của tâm hồn con người ta. Tolstoi là bậc thầy về điểm này” (24). Nguyễn Đình Thi có ấn tượng rất mạnh với Chiến tranh và hòa bình: “ Cuốn sách đã làm tôi xúc động mạnh. Trong cuốn tiểu thuyết, biện chứng tâm hồn đã hòa nhập với triết lí, với sự vận động của lịch sử, và trong sự hòa hợp đó kết tinh rất nhiều vấn đề trọng yếu của thời đại chúng ta”(25). Trong tập tiểu luận Công việc của người viết tiểu thuyết, Nguyễn Đình Thi tâm sự : tác giả Chiến tranh và hoà bình đã cung cấp cho ông những bài học đáng quý trong cuộc đời sáng tạo nghệ thuật. Nếu tư tưởng nghệ thuật lớn nhất của L. Tolstoi là tư tưởng nhân dân, thì đối với Nguyễn Đình Thi, cũng có thể nói như vậy. Minh chứng cho điều này là những sáng tác rất tiêu biểu của ông, cả thơ ( Đất nước, Lá đỏ ), cả nhạc ( Người Hà Nội ) và cả trong tiểu thuyết (Vỡ bờ).
Vỡ bờ là bộ tiểu thuyết lớn của Nguyễn Đình Thi phản ánh nhiều mặt xã hội Việt
Miêu tả Phượng, Nguyễn Đình Thi cũng muốn qua ánh mắt, nụ cười, khắc hoạ những nét tính cách khác nhau : một cô Phượng ngây thơ, trong sáng và một cô Phượng chán chường, mệt mỏi, một con người mang bi kịch nội tâm, nổi loạn một cách tuyệt vọng, bế tắc. Phượng gần với cách Tolstoi miêu tả Anna Karenina : “toàn thân nàng trào lên một sức sống dào dạt, dù muốn hay không, vẫn bộc lộ qua ánh mắt hoặc miệng cười. Những lúc nàng cố tình giấu kín không để cái ánh lửa ấy ngời lên trong mắt thì nó lại xuất hiện trong nét cười kín đáo, ngoài ý muốn của nàng” (Anna Karenina). Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét rất đúng : “Hồi ấy người ta tranh luận khá sôi nổi chung quanh một nhân vật ưa thích của tác giả : nhân vật Phượng. Thực ra người đàn bà này cứ như là cái bóng của những Anna Karênina hay Kachia của hai ông Tônxtôi nước Nga” (29).
Viết về trí thức tiểu tư sản, Nguyễn Đình Thi không tập trung vào những quẩn quanh bế tắc vì miếng cơm manh áo ; cái mới là ông chú trọng miêu tả những con đường khác nhau tìm đến cách mạng của họ, những băn khoăn, day dứt của họ về lẽ sống và vận mệnh đất nước. Miêu tả Tư và Hội, những trí thức muốn thoát khỏi cuộc sống chật hẹp, tù túng của xã hội cũ, khao khát đi tìm lí tưởng, Nguyễn Đình Thi chú ý đến kinh nghiệm thể hiện quá trình vận động tư tưởng, tình cảm con người của nhà nghệ sĩ tâm lí bậc thầy Tolstoi. Nguyễn Đình Thi đưa các nhân vật vào trung tâm các sự kiện lịch sử, đặt họ đối diện trước những câu hỏi mà không phải bao giờ cũng tìm ngay ra lời đáp. Những suy nghĩ trăn trở của hai nhân vật được tác giả Vỡ bờ tập trung thể hiện qua các đoạn miêu tả tâm trạng, độc thoại nội tâm. Chứng kiến không khí đau thương của xã hội Việt
Người đọc nhớ Tolstoi miêu tả tâm trạng Pie Bedukhov trong Chiến tranh và hoà bình. Nhân vật của Tolstoi từng băn khoăn tự hỏi : “Cái gì là xấu ? Cái gì là tốt ? Nên yêu cái gì ? Nên ghét cái gì ? Sức mạnh nào chi phối tất cả”, cũng từng có cảm giác : “cần phải làm một việc gì và hi sinh một cái gì” khi nghe tin Moskva sắp bị bỏ ngỏ, và cảm giác này lại xuất hiện khi Pie rời Moskva đến chiến trường Borodino “giá có thể vứt bỏ đi tất cả (cảnh sinh hoạt tiện nghi, sự giàu sang) để đổi lấy một cái gì đó thì thích lắm”. Đổi lấy cái gì, Pie chưa nhận thức được, nhưng điều này đã làm nảy sinh một tình cảm vui sướng mới mẻ.
Đặc điểm phương pháp tâm lí của Tolstoi là ở chỗ ông không chỉ miêu tả một hiện tượng tâm lí đã hình thành hoặc những hiện tượng tâm lí riêng rẽ, rời rạc mà chú ý đến cả quá trình tâm lí. Để dẫn Pie đến quyết định “Phải trở thành một người lính, một người lính bình thường thôi”, Tolstoi cho nhân vật trải qua hàng loạt cảm giác, nối tiếp nhau, thành dòng nội tâm không ngừng. Từ biển cảm giác chất chứa, một ánh sáng trí tuệ mới mẻ giúp Pie nhận rõ con đường trở về ngọn nguồn chân lí, đó là nhân dân. Trong Vỡ bờ, những ấn tượng của cuộc sống xô đến như những làn sóng, tạo phản ứng dây chuyền trong tâm hồn Tư và Hội. Qua hàng loạt câu hỏi, các cảm giác, ấn tượng có khi mơ hồ, không rõ rệt nối tiếp nhau, liên kết nhau, xô đẩy nhau, những con người tiểu tư sản trí thức ấy mới nghiệm ra kết luận, tìm được sợi chỉ đỏ nối liền và cắt nghĩa các hiện tượng rối rắm đan chéo trong cuộc sống.
Vỡ bờ là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Thi, cũng là một thành tựu quan trọng đánh dấu bước trưởng thành của nghệ thuật tiểu thuyết Việt
Viết tác phẩm hoành tráng, bao quát hiện thực lớn lao về một thời kì lịch sử oai hùng của dân tộc là ao ước của các nhà văn Việt
Các nhà văn Việt
Trong tiểu thuyết Mẫn và tôi, Phan Tứ đã xây dựng hình tượng cây đa qua cảm nhận của nhân vật Thiêm: “Giữa những bóng cây xơ xác in trên trời sao, đột ngột nổi lên một cây gì rất to, sáng rực, cành quẫy nhẹ làm rung lao xao cái tán lá tuyền một màu xanh non mát rượi. Tôi sửng sốt một loáng, rồi nhận ra cây đa già bên mái đình, thân và cành chằng chịt những vết rạch, còn nhiều mảnh pháo cắm sâu vào gỗ, lay không ra. Thật nó đấy không? Hình như loạt nổ vừa rồi đã đánh thức nó dậy, và nó lập tức chuyển mình, trút vỏ, thay lá, đi ngay vào cuộc sống mới. Mùa xuân vọt lên giữa đêm. Đi khá xa, tôi còn thấy cây đa kì diệu ấy hiện trẻ măng trong quầng lửa của cuộc nổi dậy” (33). Cây đa có vị trí đặc biệt trong văn hoá Việt
Sự giống nhau dễ nhận thấy trong cách miêu tả, trong một số chi tiết, hình tượng ở tác phẩm Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu, Phan Tứ với tác phẩm Tolstoi không đơn giản là vấn đề tương đồng ngẫu nhiên, mà có cả sự tiếp thu sáng tạo của nhà văn Việt Nam, những người gần gũi và yêu tha thiết văn học cổ điển Nga cũng như cá nhân thiên tài L. Tolstoi.
Nếu trong văn học Việt Nam 1954 - 1975, cảm hứng sử thi chiếm âm hưởng chủ đạo, mọi mối quan hệ riêng tư đều quy chiếu về một điểm nhìn lớn lao của quyền lợi cộng đồng thì sau chiến tranh cuộc sống đời thường, sự thăng trầm của số phận con người trở thành nỗi băn khoăn của giới sáng tác. Đi vào thể tài đời tư, khắc hoạ những số phận cá nhân, các nhà văn Việt Nam đã tiếp thu, vận dụng linh hoạt kinh nghiệm của văn học thế giới, đặc biệt là các thủ pháp nghệ thuật như : tăng cường độc thoại nội tâm, sự phân thân, hoá thân, giấc mơ, ảo giác… để thâm nhập vào cõi tâm linh bí ẩn, khám phá con người trong con người. Về mặt này, Tolstoi với nghệ thuật phân tích tâm lí bậc thầy, phép biện chứng tâm hồn … trở thành phương thức hữu hiệu giúp các nhà văn thể hiện được tầng sâu bí ẩn thế giới bên trong con người, một thế giới luôn bao hàm cả “ánh sáng và bóng tối”. Điều đó góp phần làm cho bức tranh xã hội, con người trong văn học Việt Nam ở giai đoạn sau năm 1975 đa chiều, đa diện và sâu sắc hơn. Do khuôn khổ của bài báo, chúng tôi chưa đề cập được vấn đề này ở đây và sẽ hướng tới vấn đề này trong bài báo khác.
Việc giới thiệu, nghiên cứu di sản đồ sộ của đại văn hào Nga L. Tolstoi trong quá trình tiếp nhận văn hóa, văn học Nga ở Việt Nam là một bộ phận khăng khít, một mắt xích quan trọng của khoa nghiên cứu lịch sử văn hóa, văn học Nga cũng như của khoa nghiên cứu lịch sử văn hóa, văn học Việt Nam. L. Tolstoi là mẫu mực của nghệ thuật chân chính, là cây đại thụ toả bóng mát cho nhiều thế hệ nghệ sĩ. Nơi ông tập trung những thành tựu lớn của cả một thời đại rực rỡ trong văn học Nga thế kỉ XIX. Sáng tác của ông được đánh giá như “một viện hàn lâm cho các nhà văn” bởi những giá trị hiện thực lịch sử và những tìm tòi sáng tạo của một tư duy nghệ thuật đi trước thời gian. L. Tolstoi ở Việt
(1) Nguyễn Minh Châu: "Tác dụng kì diệu của tác phẩm văn học", Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 9/1985, Hà Nội.
(2), (8), (19) Trần Phong Giao: "Vài cảm nghĩ xuôi dòng", Tạp chí Văn số 128/1969, Sài Gòn, tr. 79, 82, 80.
(9) Nguyễn Hiến Lê: "Lời cảm ơn gửi nhà xuất bản", Văn số 128/1969, Sài Gòn, tr. 22.
(3), (10), (13), (16) Nguyễn Hiến Lê: "Công việc dịch của chúng tôi", Chiến tranh và hoà bình, NXB Lá bối, Sài Gòn, 1969, tr. 111, 85, 101, 97.
(11) Nguyễn Hiến Lê : “Bốn lối kết trong tiểu thuyết, bốn nhân sinh quan”, Bách khoa số 290, 291/ 1969, Sài Gòn, tr.18.
(28) Phong Lê : “Chung quanh vấn đề Vỡ bờ”, Nguyễn Đình Thi về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr. 176.
(19), (21) Lưu Liên : “Sức mạnh tố cáo của tiểu thuyết Anna Karênina”, Tạp chí Văn học số 6/ 1994, Hà Nội, tr. 107, 116.
(20) Nguyễn Thành Long: “Lep Tônxtôi và Anna Karênina”, Báo Văn nghệ số 61/ 1964, Hà Nội, tr. 6.
(29) Nguyễn Đăng Mạnh: Nhà văn Việt
(14) Lời “Tựa” Anna Karenina , NXB Khai Trí, Sài Gòn, 1973, tr.26.
(7), (15) Lời “Tựa” Vùng đất hồi sinh, NXB Phù Sa, Sài Gòn, 1973, tr. 7, 14.
(4), (5), (25) N.I. Nikulin : “Tác phẩm của Lep Tônxtôi ở Sài Gòn thời bị tạm chiếm”, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 7/1991, Viện Khoa học Xã hội tại TP. HCM, tr. 83, 87, 71.
(27) Nguyễn Đình Thi: Công việc của người viết tiểu thuyết, NXB Văn học, Hà Nội, 1969, tr. 15.
(23), (24), (26) Nguyễn Đình Thi : “Đại hội lần thứ tư các nhà văn Liên xô”, Tạp chí Văn học số 5/ 1977, Hà Nội, tr. 140, 165, 158.
(17), (18) Tràng Thiên: "Một đề tài của Tolstoi: cái chết", Bách khoa số163/1963, Sài Gòn, tr. 67, 67.
(30), (31) L. Tônxtôi: Chiến tranh và hoà bình, Tập 1, NXB Văn học, Hà Nội, 1976, tr. 668, 691.
(32) L. Tônxtôi: Chiến tranh và hoà bình, Tập 2, NXB Văn học, Hà Nội, 1976, tr. 248.
(6), (22), Nguyễn Tuân: “Tôn-xtôi”, Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 3, NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr. 428, 420.
(33) Phan Tứ : Mẫn và tôi, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1972, tr. 83.
(12) Hoàng Vũ Đức Vân : "Léon Tolstoi trong tác phẩm Chiến tranh và hoà bình", Văn học số 22/1964, Sài Gòn, tr. 38.
Những tin cũ hơn
| Han Yong-Un và Hàn Mặc Tử: Thơ ca của niềm im lặng |
| Masaoka Shiki và haiku cận đại |
| Từ Chí Ma – tư tưởng và phong cách nghệ thuật |
| Futabatei Shimei và tiểu thuyết mới đầu tiên: "Ukigumo" |
| Phong cách thơ Ngải Thanh và những ảnh hưởng từ phái tượng trưng |
Đang truy cập : 48
Hôm nay : 149
Tháng hiện tại : 47,689
Tổng lượt truy cập : 220,370